Ngoài biên dịch thông thường, Nibe còn cung cấp dịch vụ dịch thuật công chứng tiếng Nhật.
Người lao động nước ngoài (người Nhật Bản) vào làm việc tại Việt Nam tại các vị trí nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia, lao động kỹ thuật thì phải làm thủ tục xin cấp giấy phép lao động (theo quy định tại Nghị định 219/2025/NĐ-CP ngày 07/08/2025). Các bạn phòng hành chính sẽ làm thủ tục này cho Tổng giám đốc, chuyên gia người Nhật của công ty mình.
Bộ hồ sơ xin cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài (người Nhật) thường bao gồm:
- Giấy thuyên chuyển công tác
- Giấy chứng nhận nhân viên
- Giấy chứng nhận kinh nghiệm
- Bằng tốt nghiệp đại học
- Lý lịch tư pháp
Theo quy định tại Điều 5 Nghị định 219/2025/NĐ-CP, các giấy tờ trên nếu là của nước ngoài thì phải hợp pháp hóa lãnh sự, sau đó “Giấy tờ đã được hợp pháp hóa lãnh sự phải được dịch ra tiếng Việt và chứng thực theo quy định của pháp luật.”
Ví dụ sau sẽ khiến bạn thấy dễ hiểu hơn: Một bác chuyên gia người Nhật nộp Giấy chứng nhận tốt nghiệp đại học do Đại học Tokyo (Nhật Bản) phát hành, trên đó có con dấu và chữ ký của thầy Hiệu trưởng Đại học Tokyo.
Nếu đem nguyên bản gốc Giấy chứng nhận đó nộp cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, thì cơ quan Việt Nam không biết được chữ ký đó, chức danh đó (hiệu trưởng) và con dấu đó có phải là giả không. => Phía công ty phải làm thủ tục “Hợp pháp hóa lãnh sự”. Cách thường làm nhất là: Làm hợp pháp hóa lãnh sự tại Nhật Bản. Sản phẩm là tờ Giấy chứng nhận tốt nghiệp đại học đã được Văn phòng công chứng tại Nhật xác nhận, và Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản (hoặc Lãnh sự quán Việt Nam tại Nhật Bản) dán tờ xác nhận. Ý nghĩa là: Chúng tôi kiểm tra rồi, đúng là chữ ký, chức danh và con dấu trên Giấy chứng nhận này là thật, giấy tờ này không bị sửa chữa, giả mạo gì cả.
Tuy nhiên, “hợp pháp hóa lãnh sự” chỉ xác nhận chữ ký, con dấu và chức danh trên tài liệu đó, chứ không chứng nhận nội dung của giấy tờ. Giấy chứng nhận viết bằng tiếng Nhật nên cơ quan Việt Nam không hiểu nội dung là gì. Vậy nên mới có quy định “Giấy tờ đã được hợp pháp hóa lãnh sự phải được dịch ra tiếng Việt và chứng thực theo quy định của pháp luật.” Thủ tục này thường được gọi nôm na là “dịch thuật công chứng”.
Trường hợp bản gốc chỉ viết bằng tiếng Nhật thì các anh chị phòng hành chính hay bảo Nibe là “làm dịch thuật công chứng tiếng Nhật cho chị” hoặc “làm bản dịch công chứng Nhật – Việt cho chị”.
Trường hợp bản gốc là tiếng Anh thì các anh chị bảo Nibe là “làm dịch thuật công chứng tiếng Anh cho chị” hoặc “làm bản dịch công chứng Anh – Việt cho chị”.
Trường hợp bản gốc có cả tiếng Nhật và tiếng Anh thì các anh chị bảo Nibe là “làm dịch thuật công chứng 2 thứ tiếng cho chị” hoặc “làm bản dịch công chứng Anh, Nhật sang Việt cho chị”.
Nhận được yêu cầu này, người dịch sẽ đem bản gốc tiếng Nhật đó dịch sang tiếng Việt, sau đó in bản gốc và bản dịch ra, nộp cho Văn phòng công chứng để xin dấu. Người dịch phải là người đã đăng ký với Văn phòng công chứng, đảm bảo là đủ năng lực để dịch chính xác. Nibe kiểm tra chéo kỹ lưỡng để không bỏ lọt lỗi nào. Công chứng xong rồi thì tự soát và scan đưa cho khách hàng soát lại lần nữa.
Làm xong, bạn sẽ nhận được Bản công chứng hoàn chỉnh cuối cùng là hồ sơ giấy kẹp chung bản dịch và bản gốc có đóng dấu đỏ của phòng công chứng, cùng lời chứng của công chứng viên.
Mỗi ngôn ngữ của bản gốc phải do 1 người dịch phụ trách riêng. Nếu bản gốc bao gồm 2 ngôn ngữ (có cả tiếng Anh và tiếng Nhật, dịch sang tiếng Việt) thì trên bản dịch công chứng phải có lời chứng của 2 người dịch (một người biên dịch từ Anh sang Việt, một người biên dịch từ Nhật sang Việt) và 2 dấu xác nhận của công chứng viên cho 2 người dịch này.
Khách hàng tìm đến dịch vụ dịch thuật công chứng tiếng Nhật của Nibe đa phần có điểm chung, đó là từng tự làm nhưng mắc lỗi, phải sửa đi sửa lại nhiều lần, rất mất thời gian. Ví dụ như: Bản dịch không giữ nguyên bố cục so với bản gốc (Trang tiếng Nhật và trang tiếng Anh có nội dung giống hệt nhau. Đúng ra là bản dịch tiếng Việt phải có 2 trang nội dung giống hệt nhau đó, để người dịch tiếng Anh ký 1 trang, người dịch tiếng Nhật ký 1 trang. Nhưng thấy giống hệt nhau nên chỉ để 1 trang.). Rồi lỗi nhầm số, thiếu câu,... Có tài liệu phải làm lại tới 3 lần, có tài liệu nộp lên Sở Lao động xong rồi bị trả lại trong khi deadline cận kề.
Trong lúc chờ làm hợp pháp hóa lãnh sự, chúng ta có thể biên dịch sẵn, cùng nhau kiểm tra bản dịch thật kỹ. Sau khi hợp pháp hóa lãnh sự xong thì gắn thêm lời chứng vào bản dịch rồi nộp lên VP công chứng. Cách này là tối ưu nhất về thời gian.
Làm việc với đội ngũ biên dịch viên chuyên nghiệp và khâu soát cuối cùng tỉ mỉ, kĩ lưỡng, bạn sẽ đỡ khổ hơn nhiều. Dịch vụ dịch thuật công chứng tiếng Nhật của Nibe sẽ hỗ trợ khách hàng thực hiện công chứng nhanh gọn, chất lượng tốt để hoàn thiện hồ sơ sớm nhất.
Ngoài biên dịch thông thường, Nibe còn cung cấp dịch vụ dịch thuật công chứng tiếng Nhật.
Người lao động nước ngoài (người Nhật Bản) vào làm việc tại Việt Nam tại các vị trí nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia, lao động kỹ thuật thì phải làm thủ tục xin cấp giấy phép lao động (theo quy định tại Nghị định 219/2025/NĐ-CP ngày 07/08/2025). Các bạn phòng hành chính sẽ làm thủ tục này cho Tổng giám đốc, chuyên gia người Nhật của công ty mình.
Bộ hồ sơ xin cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài (người Nhật) thường bao gồm:
- Giấy thuyên chuyển công tác
- Giấy chứng nhận nhân viên
- Giấy chứng nhận kinh nghiệm
- Bằng tốt nghiệp đại học
- Lý lịch tư pháp
Theo quy định tại Điều 5 Nghị định 219/2025/NĐ-CP, các giấy tờ trên nếu là của nước ngoài thì phải hợp pháp hóa lãnh sự, sau đó “Giấy tờ đã được hợp pháp hóa lãnh sự phải được dịch ra tiếng Việt và chứng thực theo quy định của pháp luật.”
Ví dụ sau sẽ khiến bạn thấy dễ hiểu hơn: Một bác chuyên gia người Nhật nộp Giấy chứng nhận tốt nghiệp đại học do Đại học Tokyo (Nhật Bản) phát hành, trên đó có con dấu và chữ ký của thầy Hiệu trưởng Đại học Tokyo.
Nếu đem nguyên bản gốc Giấy chứng nhận đó nộp cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, thì cơ quan Việt Nam không biết được chữ ký đó, chức danh đó (hiệu trưởng) và con dấu đó có phải là giả không. => Phía công ty phải làm thủ tục “Hợp pháp hóa lãnh sự”. Cách thường làm nhất là: Làm hợp pháp hóa lãnh sự tại Nhật Bản. Sản phẩm là tờ Giấy chứng nhận tốt nghiệp đại học đã được Văn phòng công chứng tại Nhật xác nhận, và Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản (hoặc Lãnh sự quán Việt Nam tại Nhật Bản) dán tờ xác nhận. Ý nghĩa là: Chúng tôi kiểm tra rồi, đúng là chữ ký, chức danh và con dấu trên Giấy chứng nhận này là thật, giấy tờ này không bị sửa chữa, giả mạo gì cả.
Tuy nhiên, “hợp pháp hóa lãnh sự” chỉ xác nhận chữ ký, con dấu và chức danh trên tài liệu đó, chứ không chứng nhận nội dung của giấy tờ. Giấy chứng nhận viết bằng tiếng Nhật nên cơ quan Việt Nam không hiểu nội dung là gì. Vậy nên mới có quy định “Giấy tờ đã được hợp pháp hóa lãnh sự phải được dịch ra tiếng Việt và chứng thực theo quy định của pháp luật.” Thủ tục này thường được gọi nôm na là “dịch thuật công chứng”.
Trường hợp bản gốc chỉ viết bằng tiếng Nhật thì các anh chị phòng hành chính hay bảo Nibe là “làm dịch thuật công chứng tiếng Nhật cho chị” hoặc “làm bản dịch công chứng Nhật – Việt cho chị”.
Trường hợp bản gốc là tiếng Anh thì các anh chị bảo Nibe là “làm dịch thuật công chứng tiếng Anh cho chị” hoặc “làm bản dịch công chứng Anh – Việt cho chị”.
Trường hợp bản gốc có cả tiếng Nhật và tiếng Anh thì các anh chị bảo Nibe là “làm dịch thuật công chứng 2 thứ tiếng cho chị” hoặc “làm bản dịch công chứng Anh, Nhật sang Việt cho chị”.
Nhận được yêu cầu này, người dịch sẽ đem bản gốc tiếng Nhật đó dịch sang tiếng Việt, sau đó in bản gốc và bản dịch ra, nộp cho Văn phòng công chứng để xin dấu. Người dịch phải là người đã đăng ký với Văn phòng công chứng, đảm bảo là đủ năng lực để dịch chính xác. Nibe kiểm tra chéo kỹ lưỡng để không bỏ lọt lỗi nào. Công chứng xong rồi thì tự soát và scan đưa cho khách hàng soát lại lần nữa.
Làm xong, bạn sẽ nhận được Bản công chứng hoàn chỉnh cuối cùng là hồ sơ giấy kẹp chung bản dịch và bản gốc có đóng dấu đỏ của phòng công chứng, cùng lời chứng của công chứng viên.
Mỗi ngôn ngữ của bản gốc phải do 1 người dịch phụ trách riêng. Nếu bản gốc bao gồm 2 ngôn ngữ (có cả tiếng Anh và tiếng Nhật, dịch sang tiếng Việt) thì trên bản dịch công chứng phải có lời chứng của 2 người dịch (một người biên dịch từ Anh sang Việt, một người biên dịch từ Nhật sang Việt) và 2 dấu xác nhận của công chứng viên cho 2 người dịch này.
Khách hàng tìm đến dịch vụ dịch thuật công chứng tiếng Nhật của Nibe đa phần có điểm chung, đó là từng tự làm nhưng mắc lỗi, phải sửa đi sửa lại nhiều lần, rất mất thời gian. Ví dụ như: Bản dịch không giữ nguyên bố cục so với bản gốc (Trang tiếng Nhật và trang tiếng Anh có nội dung giống hệt nhau. Đúng ra là bản dịch tiếng Việt phải có 2 trang nội dung giống hệt nhau đó, để người dịch tiếng Anh ký 1 trang, người dịch tiếng Nhật ký 1 trang. Nhưng thấy giống hệt nhau nên chỉ để 1 trang.). Rồi lỗi nhầm số, thiếu câu,... Có tài liệu phải làm lại tới 3 lần, có tài liệu nộp lên Sở Lao động xong rồi bị trả lại trong khi deadline cận kề.
Trong lúc chờ làm hợp pháp hóa lãnh sự, chúng ta có thể biên dịch sẵn, cùng nhau kiểm tra bản dịch thật kỹ. Sau khi hợp pháp hóa lãnh sự xong thì gắn thêm lời chứng vào bản dịch rồi nộp lên VP công chứng. Cách này là tối ưu nhất về thời gian.
Làm việc với đội ngũ biên dịch viên chuyên nghiệp và khâu soát cuối cùng tỉ mỉ, kĩ lưỡng, bạn sẽ đỡ khổ hơn nhiều. Dịch vụ dịch thuật công chứng tiếng Nhật của Nibe sẽ hỗ trợ khách hàng thực hiện công chứng nhanh gọn, chất lượng tốt để hoàn thiện hồ sơ sớm nhất.